Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 diễn ra như thế nào? Kháng chiến chống Pháp trong lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 ra sao?

Ở bài viết này, Chiase24h.net sẽ làm sáng tỏ những nội dung chính của Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 và trả lời các câu hỏi:

1.    Tình hình Việt Nam như thế nào sau Cách mạng tháng Tám năm 1945? 

2.    Việt Nam xây dựng chính quyền cách mạng như thế nào? 

3.    Toàn dân kháng chiến chống Pháp ra sao? (1946 – 1954)

–       Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh là chủ yếu.

–       Những thắng lợi trên mặt trận quân sự.

–       Những thắng lợi trên mặt trận Chính trị, Kinh tế, Văn hoá – xã hội, Ngoại giao. 

4.    Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 như thế nào?

I. Tình hình Việt Nam như thế nào sau Cách mạng tháng Tám năm 1945?

Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Nam bước vào một giai đoạn mới, đi đôi với đó là những thuận lợi, khó khăn mà chúng ta gặp phải lúc mới xây dựng được chính quyền cách mạng:

*Thuận lợi:

Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là thành quả của cả giai đoạn lịch sử, là mong ước của nhân dân cả nước và là sự phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam trong xu thế của toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam có Đảng Cộng sản lãnh đạo, có bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương điều hành, xây dựng và bảo vệ đất nước. 

Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành đảng cầm quyền, là trung tâm của sự đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, xây dựng và bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nhân dân Việt Nam, những con người có truyền thống yêu nước bất khuất, truyền thống cách mạng đã quyết tâm theo Đảng, theo Chính phủ lâm thời quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn phải chịu sự xâm lăng của các thế lực lớn, nhưng ở đâu, thời nào cũng vậy, nhân dân Việt Nam luôn kiên cường, đấu tranh đến cùng để bảo vệ giang sơn đất Việt.

Trong thời gian này, phong trào công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ, hệ thống xã hội chủ nghĩa được hình thành, phong trào đấu tranh của các nước thuộc địa chống lại ách thống trị của đế quốc ngày càng dâng cao đặc biệt tại châu Á, Phi và Mỹ La tinh. Bên cạnh đó, những phong trào ủng hộ dân chủ, đấu tranh vì hòa bình ở các nước tư bản  chủ nghĩa cũng phát triển mạnh, tạo tiền đề cho các nước thuộc địa vùng lên giành chính quyền cách mạng.

*Khó khăn

Khó khăn lớn nhất lúc này có thể nói đến đó là việc phải tiếp tục đánh đuổi giặc ngoại xâm (thực dân Pháp) và giặc nội phản (kẻ chống đối, kích động từ bên trong). Trong lúc, chính quyền cách mạng còn non trẻ, Đảng, Chính phủ và nhân dân chưa có kinh nghiệm trong đấu tranh giữ chính quyền nên rất dễ tổn thương bởi những tác động của thế giới và trong nước.

Bên cạnh đó, quân đội các nước đế quốc lấy danh nghĩa của quân Đồng minh vào để giải giáp quân Nhật lũ lượt kéo vào Việt Nam làm tình hình trở nên căng thẳng. Từ khu vực vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có tới gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa dân quốc), theo sau Tưởng là bọn Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng) và Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh hội) với âm mưu xúc tiến thành lập một chính phủ liên minh, bù nhìn cho nước ngoài.

Mục tiêu chính của chúng là đánh đổ Đảng Cộng sản còn non trẻ, phá tan mặt trận Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng vừa mới được thành lập của nhân dân Việt Nam. Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạn quân Anh kéo vào hỗ trợ Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Dưới sự hỗ trợ của Anh, Pháp mở rộng chiếm đóng Nam Bộ.

Ngoài ra đang còn hàng vạn quân Nhật đang chờ giải giáp cũng có nguy cơ vùng lên bất cứ lúc nào. Chưa bao giờ trên đất nước Việt Nam, lại có nhiều kẻ thù, các nước đế quốc cùng xuất hiện như vậy. Trong khi đó, do mới thành lập, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao, cách mạng Việt Nam nằm trong tình thế bị bao vây, cô lập. 

Khó khăn nối tiếp khó khăn, nạn đói nghiêm trọng xảy ra vào cuối năm 1944, đầu 1945 chưa khắc phục được thì lại xảy ra lũ lụt lớn, làm vỡ hệ thống đê điều ở 9 tỉnh khu vực Bắc Bộ và sau đó là hạn hán kéo dài khiến cho phân nửa diện tích đất nông nghiệp không thể xuống giống. Ngân sách Nhà nước thì trống rỗng, chính quyền cách mạng chưa nắm quyền quản lý được Ngân hàng Đông Dương, bọn Tưởng Giới Thạch lại tung ra thị trường các loại tiền mất giá từ Trung Quốc làm cho nền tài chính rối loạn.

Tại Việt Nam, do vừa trải qua chế độ phong kiến nên tàn dư văn hóa lạc hậu để lại rất nặng nề, theo thống kê, có tới hơn 90% dân số mù chữ. Kéo theo đó, những tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mê tín dị đoan… hoành hành, gây khó khăn cho công tác quản lý, ổn định.

Tình thế này đẩy Đảng, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa vào tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong tình thế đó, ngày 25/11/1945, Đảng ban hành Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” và xác định:

– Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam “vẫn là giải phóng dân tộc”, khẩu hiệu của nhân dân là “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”

– Kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược;

– 4 nhiệm vụ cấp bách trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân.

– Phương hướng đối ngoại là kiên trì theo nguyên tắc “bình đẳng, hợp tác”, “thêm bạn, bớt thù”, đối với quân Trung Hoa dân quốc thực hiện khẩu hiệu “Hoa, Việt thân thiện”, đối với Pháp thực hiện “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”.

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954
Việt Nam sau cách mạng tháng Tám trải qua “Giặc dốt, Giặc đói, Giặc ngoại xâm”

II. Việt Nam xây dựng chính quyền cách mạng như thế nào?

Trước tình hình được đánh giá là “ngàn cân treo sợi tóc”, ngày 6/1/1946, nước ta tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội trong cả nước. Hơn 90% cử tri đã đi bầu và 333 đại biểu đã được bầu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thắng lợi của Tổng tuyển cử bầu Quốc hội có ý nghĩa to lớn, thể hiện ý chí và quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập; giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kỳ mới.

Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, thành lập Uỷ ban hành chính các cấp. Ngày 2/3/1946, Quốc hội Khoá I, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà họp phiên đầu tiên, thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và lập ra Ban dự thảo Hiến pháp. Ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội thông qua. Quân đội nhà nước Việt Nam ra đời (5/1946). Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố và phát triển. Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân được hình thành.

Sự kiện này có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng, khẳng định tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng, bộ máy nhà nước được kiện toàn và trở thành công cụ sắc bén để phục vụ sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong lúc đó, để giải quyết những khó khăn về kinh tế, văn hoá và xã hội, Đảng và Chính phủ lâm thời đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra hàng loạt biện pháp nhằm giải quyết khó khăn về tài chính và nạn đói đang hoành hành trong cả nước. Để giải quyết nạn đói, Chính phủ áp dụng biện pháp khẩn thiết và trước mắt là quyên góp thóc gạo từ nhân dân.

Sau đó điều tiết thóc gạo bằng cách tổ chức “Ngày đồng tâm”, “hũ gạo cứu đói”, “Không dùng lương thực để nấu rượu” và đặc biệt là học theo tấm gương của Bác. Sau đó, Chính phủ lâm thời ban hành nhiều biện pháp lâu dài, thi đua hăng hái tham gia lao động, sản xuất, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác, giảm tô, chia lại ruộng đất công bằng.

Sau khi thực hiện những biện pháp tích cực, chỉ trong một thời gian ngắn nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân được cải thiện, sản xuất được phục hồi, nhân dân ngày càng có niềm tin vào cách mạng. Về tài chính, chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được hơn 370kg vàng và 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập, 40 triệu đồng cho Quỹ đảm phụ quốc phòng. Về lâu dài, Chính phủ quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước, khó khăn về tài chính từng bước được đẩy lùi, kinh tế có dấu hiệu hồi phục lớn.

Trên mặt trận văn hoá xã hội, Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh thành lập “Nha Bình dân học vụ” – cơ quan chuyên trách thực hiện việc chống “Giặc dốt”. Chính phủ kêu gọi người người đi học, nhà nhà đi học nên chỉ sau một thời gian ngắn, toàn quốc đã có hơn 2,5 triệu người thoát mù chữ. Các trường phổ thông và đại học cũng được khai giảng nhằm đào tạo cán bộ chủ chốt, nhân lực có trình độ cao để giúp sức cho đất nước.

Song song với việc giáo dục, Chính phủ cũng đưa ra các biện pháp mạnh mẽ bài trừ các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan trong nhân dân, xây dựng các phong trào phát triển nếp sống văn hoá ở khu dân cư, tích cực tham gia các hoạt động văn hoá văn nghệ… Nhờ những biện pháp kịp thời và quyết liệt của Chính phủ, trình độ dân trí và hiểu biết của nhân dân được tăng cao, đời sống văn hoá tinh thần có nhiều sự thay đổi đáng kể. Có thể nói ở giai đoạn này, mặt trận văn hoá văn nghệ ở nước ta phát triển vượt bậc.

Song song với công việc giải quyết khó khăn về tài chính, phát triển kinh tế đi đôi với việc giải quyết nạn mù chữ, bài trừ mê tín dị đoan, giai đoạn này Chính phủ và nhân dân cả nước cũng phải đấu tranh chống giặc ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ:

Ngày 23/9/1945, Thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta với sự trợ giúp của quân Anh. Quân Pháp nổ súng tấn công trụ sở UBND Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, bắt đầu hành động xâm lược Việt Nam lần thứ 2. Sau đó, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn và cả miền Nam Bộ bắt đầu cuộc chiến chống Pháp. Các đội biệt động Sài Gòn và quân du kích liên tiếp đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất, phá kho tàng, chặn tiếp tế, dựng chướng ngại vật trong thành phố và tấn công địch. Trong khi đó, từ Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng hướng về nhân dân miền Nam ruột thịt, tổ chức tăng gia sản xuất, làm hậu phương vững chắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. 

Để tránh đối đầu với cùng lúc nhiều kẻ thù, Chính phủ chủ trương “hoà để tiến”, tiến hành hoà hoãn với quân Tưởng, chấp nhận một số yêu sách về kinh tế, tài chính; Nhường cho Việt Quốc và Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong Chính phủ liên hiệp mà không cần thông qua bầu cử để tránh cùng lúc phải đối đầu với quá nhiều kẻ thù trong lúc Chính phủ còn non trẻ chưa đủ mạnh.

Thời điểm này, Đảng ta cũng quyết định rút vào hoạt động bí mật với danh nghĩa “tự giải tán” để tránh sự tấn công trực tiếp về chính trị của kẻ thù. Bên cạnh đó, chính quyền cách mạng cũng dựa vào quần chúng nhân dân, tiến hành đấu tranh loại bỏ những kẻ phản động, bán nước. Những chính sách quyết đoán và kịp thời đấy đã hạn chế được hoạt động phá hoại của quân Tưởng, làm thất bại hoàn toàn âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng, tạo điều kiện củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng, rèn luyện đội ngũ cán bộ chủ chốt và tập trung nguồn lực cho trận chiến chống Pháp của nhân dân miền Nam.

Sau khi thực hiện tấn công chiếm phần lớn các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp lên kế hoạch kéo quân ra Bắc hòng thôn tính cả nước. Trong khi ở Trung Quốc, cách mạng Trung Hoa phát triển, lực lượng quân Tưởng ở Việt Nam phải rút về để đối phó. Tình thế khó khăn hơn cho chính quyền cách mạng khi khi Pháp và Tưởng ký hiệp ước Hoa – Pháp (2/1946).

Theo đó Pháp thay Tưởng ra Bắc để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Hiệp ước này đặt Chính phủ vào lựa chọn khó khăn. Hoặc là hoà hoãn với Pháp hoặc là đối đầu với cả quân tưởng và Pháp. Để tránh tình trạng cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng và Chính phủ đã quyết định chọn giải pháp hoà hoãn với Pháp bằng Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946. Thời điểm này, Pháp quyết định hoà để dễ dàng đưa quân ra Bắc, tránh đối đầu trực diện và chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài. Hiệp định Sơ bộ có nội dung:

–       Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ cộng hoà là một nước tự do, có Chính phủ, Quốc hội, Quân đội và tài chính riêng nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp.

–       Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật thay Tưởng và rút trong thời hạn 5 năm.

–       Hai bên ngừng các cuộc xung đột ở miền Nam cho đến khi có cuộc đàm phán chính thức và Hiệp định mới được ký kết.

Tiếp đó, Việt Nam và pháp đã tổ chức thêm hai cuộc đàm phán vào tháng 4/1946 và 7/1946, nhưng không thu được kết quả. Ngày 14/9/1946, dưới sức ép ngày càng lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại tiếp tục ký với Pháp bản Tạm ước, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá.

Đây là quyết định đúng đắn vào thời điểm hiện tại khi tình hình không có lợi cho cách mạng. Việc này đã giúp Chính phủ tránh đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù, có thêm thời gian hoà bình để củng cố chính quyền, chuẩn bị lực lượng để giành ưu thế trong cuộc kháng chiến lâu dài. Bên cạnh đó, điều này cũng cho bạn bè thế giới và nhân dân Pháp thấy rõ thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc yêu chuộng hoà bình, ghét chiến tranh.

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954
Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946

III. Toàn dân kháng chiến chống Pháp ra sao? (1946 – 1954)

1.    Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh là chủ yếu.

Mặc dù đã ký Hiệp định Sơ bộ và bản Tạm ước nhưng Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định thực dân Pháp sẽ không bao giờ từ đỏ âm mưu xâm lược. Trong khi đó, thực dân Pháp đã tỏ rõ dấu hiệu sẽ tấn công khi liên tiếp thực hiện các cuộc tiến công ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. 

Ở Bắc Bộ, tháng 11/1946, Pháp tiến công Hải Phòng, Lạng Sơn, cho quân đổ bộ vào Đà Nẵng và chiếm đóng Hải Phòng. 

Tháng 12/1946, Pháp gây hấn ở hà Nội, chiếm trụ sở Bộ Tài chính và gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún.

Ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư yêu cầu Chính phủ giải tán lực lượng chiến đấu tự vệ, để Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội, nếu không chúng sẽ bắt đầu hành động chiếm quyền kiểm soát vào sáng 20/12.

Trước tình thế khẩn cấp đó, Đảng và Chính phủ đã buộc phải đưa ra quyết định kịp thời. Trong ngày, Đảng và Chính phủ đã quyết định phát động kháng chiến toàn quốc. Tối ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, kêu gọi nhân dân cả nước kháng chiến chống Pháp, bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Các văn bản quan trọng thời điểm này là: Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng (12/12/1946); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946) và Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh (9/1947).

Nội dung của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” được tóm tắt như sau:

–       Mục đích kháng chiến: Đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập tự do với câu nói còn vang mãi: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

–       Kháng chiến toàn dân: Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”

–       Kháng chiến toàn diện: Chiến đấu trên mọi mặt trận: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao… nhằm đánh đổ mọi âm mưu của Pháp và xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện.

–       Kháng chiến trường kỳ: Đảng và Chính phủ xác định vấn đề kháng chiến không chỉ ngày một ngày hai, mà là kháng chiến lâu dài, trường kỳ. Kiên quyết đập tan âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của địch, từng bước nuôi dưỡng, củng cố lực lượng phản công giành thắng lợi quyết định.

–       Tự lực cánh sinh: Đảng và Chính phủ xác định thời điểm này, nước ta phải vận dụng chủ yếu tiềm lực nội tại, tránh sự trông chờ bên ngoài nhưng vẫn duy trì các biện pháp ngoại giao, kêu gọi sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Đường lối kháng chiến của Đảng ra đời như ngọn cờ đầu cổ vũ, hướng dẫn dân tộc Việt Nam tiến lên đấu tranh, giành độc lập dân tộc, là tiền đề cho những chiến thắng về sau.

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954
Cả nước đoàn kết trong kháng chiến chống Pháp trường kỳ 1946 đến 1954

2.    Những thắng lợi trên mặt trận quân sự

a.    Những cuộc tấn công mở màn

–       20h, ngày 19/12/1946, sau tín hiệu cắt điện toàn thành phố, cuộc chiến chính thức bắt đầu. Vệ quốc quân, quân dân tự vệ chiến đấu và các lực lượng khác tiến công vào các vị trí có quân Pháp. Nhân dân Hà Nội đưa bàn ghế, tủ, giường và các vật dụng khác dựng chướng ngại vật trên đường phố. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt, hai bên giành nhau từng khu nhà, góc phố.

–       Trung đoàn Thủ đô được thành lập, tiến công đánh địch ở Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân. Sau hơn hai tháng chiến đấu ác liệt trên mặt trận, ngày 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô rút về hậu phương chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.

–       Trong khi đó, quân dân các đô thị ở vĩ tuyến 16 trở ra kiên cường chiến đấu, gây khó khăn cho địch, tấn công vây hãm địch trong thành phố Nam Định suốt 3 tháng; tấn công ác liệt khiến địch phải đầu hàng ở Vinh, Nghệ An.

Sau thời gian chiến đấu ngoan cường, quân và dân ta đã làm tiêu hao một lượng lớn bộ phận sinh lực địch, giữ chân chúng đủ lâu trong thành phố để chính quyền cách mạng chuyển về Việt Bắc. Kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của địch bị phá sản, tạo điều kiện thuận lợi cho phía ta chuẩn bị vững chắc cho cuộc chiến lâu dài.

b.   Chiến dịch Việt Bắc năm 1947

–       Tháng 3/1947, Bô-la-e được cử sang làm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương thay thế cho Đác-Giăng-lio. Bô-la-e lên kế hoạch tấn công Việt Bắc nhằm tiêu diệt gọn đầu não kháng chiến của quân ta, triệt đường liên hệ với quốc tế và các quốc gia khối Liên Xô, tiến hành thành lập chính phủ mới để kết thúc chiến tranh sớm.

–       Ngày 7/10/1947, Pháp đã huy động 12.000 quân, gồm cả không quân, lục quân, và thuỷ quân lục chiến với hầu hết máy bay có ở Đông Dương chia thành ba cánh tiến công lên Việt Bắc.

–       Trước tình thế đó, Trung ương Đảng ra chỉ thị phải đánh tan cuộc tiến công mùa đông của địch.

–       Cuối tháng 11/1947, quân ta tiến công bao vây địch ở Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Rã buộc quân Pháp phải rút quân.

–       Ngày 30/10/1947, quân ta chặn đánh địch trên đường số 4, tiêu diệt lượng lớn địch và thu được nhiều khí tài ở đèo Bông Lau.

–       Tiếp đó, quân ta phục kích, đánh địch trên sông Lô, tiêu biểu có trận Đoan Hùng – Khe Lau, bắn chìm nhiều tàu chiến, tiêu diệt lượng lớn quân địch. 

–       Quân du kích và nhân dân các tỉnh phía Bắc cũng liên tục tấn công, quấy phá khiến địch “ăn không ngon, ngủ không yên”, góp phần tiêu hao và làm giảm nhuệ khí địch.

Sau 75 ngày chiến đấu ngoan cường, quân và dân ta đã đánh bật Pháp khỏi Việt Bắc, buộc địch rút lui, cơ quan đầu não của chính quyền được bảo toàn, bộ đội chủ lực trưởng thành, có kinh nghiệm chiến đấu. Trong 75 ngày, quân ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6000 quân địch, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu chiến, ca nô, phá huỷ nhiều phương tiện quân sự, thu giữ nhiều vũ khí, hàng chục tấn quân trang, quân dụng.

Đây là đợt phản công lớn nhất của quân và dân ta từ trước tới nay kho bắt đầu cuộc chiến chống Pháp. Với chiến thắng này, một lần nữa chứng minh đường lối kháng chiến của Đảng và Bác Hồ là đúng đắn, căn cứ Việt Bắc được giữ vững và làm thất bại hoàn toàn âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của địch, buộc chúng phải rút về phòng thủ và chuyển sang hướng đánh lâu dài.

chiến dịch việt bắc 1947
Các cánh quân trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947

c.    Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950

Ngày 1/10/1949, Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời làm thay đổi cục diện trên trường quốc tế, khối xã hội chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ. Đầu năm 1950, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác trong khối lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tiến hành viện trợ cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Trong khi đó, Mỹ bắt đầu can thiệp sâu hơn vào Đông Dương và có ý định hất cẳng Pháp. Tháng 5/1949, Pháp đề ra kế hoạch Rơve, tăng cường hệ thống phòng thủ trên đường số 4, thiết lập hành lang từ Đông sang Tây (Hải Phòng – Hoà Bình – Sơn La) để chuẩn bị tấn công Việt Bắc lần thứ hai.

Trước tình thế đó, tháng 6/1950, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm khai thông đường sang Trung Quốc, kết nối với thế giới và làm phá sản kế hoạch của địch, khiến địch từ bỏ tham vọng tấn công Việt Bắc đồng thời tạo ra lợi thế mới, thúc đẩy cuộc kháng chiến của dân tộc sớm đi đến thắng lợi. 

–       Ngày 16/9/1950, quân ta mở màn chiến dịch bằng trận đánh Đông Khê và chiếm được cứ điểm này khỏi tay địch

–       Mất Đông Khê, quân địch ở Thất Khê bị uy hiếp, toàn bộ Cao Bằng bị cô lập hoàn toàn. Trước tình thế đó, Pháp bắt buộc phải rút quân theo đường số 4 để bảo toàn lực lượng.

–       Khi địch rút, quân ta mai phục và chặn đánh nhiều nơi trên đường số 4, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên địch và bắt sống hai cánh quân của Pháp. 

–       Từ ngày 8/10 – 22/10/1950, quân Pháp phải rút khỏi nhiều vị trí trên đường số 4, kế hoạch của Pháp dường như thất bại hoàn toàn.

Kết quả: Quân ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8000 tên địch, giải phóng vùng rộng lớn từ Cao Bằng tới Đình Lập với hơn 35 vạn dân, chọc thủng hành lang Đông Tây, phá thế cô lập, bao vây của Pháp đối với căn cứ địa Việt Bắc, kế hoạch của Pháp bị thất bại hoàn toàn.

Đây là chiến công lớn của bộ đội chủ lực Việt Nam, khẳng định tính tinh nhuệ, tiến lên chính quy của quân sự Việt Nam. Bên cạnh đó, chiến thắng cũng đã mở rộng và củng cố vững chắc căn cứ địa Việt Bắc, đường liên lạc với quốc tế được thông thoáng, chứng minh tính đúng đắn trong đường lối và chỉ đạo của Đảng, tạo thế chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, mở ra một bước phát triển mới của cuộc kháng chiến.

Bản đồ tấn công trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950

d.   Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân (1953 – 1954)

Trải qua nhiều năm chiến đấu chống Pháp, Đảng và Chính phủ ngày càng trưởng thành, lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh và trở thành mối nguy hiểm trông thấy của thực dân Pháp. Trong khi quân ta liên tiếp chiến thắng trên nhiều mặt trận, đặc biệt là quân sự, Pháp lại thiệt hại lớn, nguy cơ sa lầy vào cuộc chiến là rất cao. Thời điểm này, Mỹ bắt đầu có nhiều hành động mạnh tay hơn, can thiệp sâu hơn vào các cuộc chiến tranh ở Đông Dương, đặc biệt là tại Việt Nam. 

Ngày 7/5/1953, qua sự thoả thuận với Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Nava làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương. Nava đề ra kế hoạch quân sự mới kiên quyết giành thắng lợi trong vòng 18 tháng để kết thúc chiến tranh. 

Kế hoạch Nava được chia làm hai giai đoạn:

–       Giai đoạn 1: Từ Thu Đông 1953 – mùa xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ, tiến công chiến lược để bình định Trung Bộ và nam Đông Dương, đồng thời tăng cường xây dựng quân đội tay sai, tập trung binh lực xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh.

–       Giai đoạn 2: Từ Thu Đông 1954, chuyển lượng lớn lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ để thực hiện tiến công chiến lược, cố gắng giành thắng lợi quân sự mang tính quyết định buộc Việt Nam phải ngồi vào bàn đàm phán với những yêu cầu có lợi cho Pháp để sớm kết thúc chiến tranh. 

Trước sự thay đổi lớn về cục diện chiến tranh ở Đông Dương với sự nhúng tay ngày càng sâu của Mỹ, Trung ương Đảng và Chính phủ đã họp và đề ra kế hoạch tiến công Đông Xuân 1953 – 1954, phá kế hoạch Nava. Trung ương Đảng và Chính phủ nhận định đây sẽ là một cuộc chiến khó khăn, bởi Pháp rất quyết tâm cho lần này và có sự trợ giúp của Mỹ.

Vì thế, quân ta chủ trương tập trung lực lượng tấn công vào những hướng quan trọng của địch và những khu vực địch yếu, mất cảnh giác, đề phòng nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó ở những nơi trọng yếu khiến quân địch dàn trải, tạo cơ hội cho ta tấn công tiêu diệt. Chúng ta xác định phương châm “Tích cực, chủ động, cơ động và linh hoạt”, “đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, chắc thắng thì đánh cho kỳ thắng, không chắc thắng kiên quyết không đánh”.

–       Ngày 10/12/1953, quân ta tiến công địch ở Lai châu, bao vây uy hiếp địch ở Điện Biên Phủ. Ngay sau đó, địch điều quân tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 2 sau đồng bằng Bắc Bộ và là ‘pháo đài bất khả xâm phạm’.

–       Đầu tháng 12/1953, phối hợp với quân và dân Lào tiến công Trung Lào. Nava lại vội vàng điều quân từ Bắc Bộ sang chi viện cho Xênô, biến nơi đây thành nơi tập trung binh lực lớn thứ ba.

–       Đầu tháng 2/1954, quân ta tiến công địch ở Bắc Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum, uy hiếp Pleiku. Nava lại tiếp tục điều quân từ Nam Tây Nguyên đến chi viện cho Pleiku, khiến nơi đây trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ tư. 

–       Tháng 2/1954, quân ta tiếp tục phối hợp với quân dân Lào mở cuộc tấn công vào thượng Lào, giải phóng Nậm Hu, Phong xa lỳ và uy hiếp Luông Pha Băng và Mường Sài. Nava lại một lần nữa điều quân về giữ Luông Pha Băng, biến nơi đây thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 5. 

–       Trong lúc quân chủ lực tiến công nhiều vị trí quan trọng, quân du kích và nhân dân tiến hành đánh sau lưng địch, quấy rối, tiêu dịch từng top nhỏ làm tiêu hao sinh lực địch, giảm nhuệ khí chiến đấu để chúng không có khả năng tiếp ứng cho nhau, tạo cơ hội cho bộ đội chủ lực tiến công giành chiến thắng quyết định.

Cuối cùng, kế hoạch Nava bị đảo lộn bởi chủ trương đúng đắn của quân ta. Địch lại điều chỉnh chiến lược, dồn toàn lực vào cứ điểm Điện Biên Phủ. 

Chiến dịch Đông Xuân 1953 đến 1954

e.    Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954

Bởi kế hoạch không như mong đợi, Pháp quyết định dồn lực xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài bất khả xâm phạm, mạnh nhất Đông Dương nhằm đối trọng với căn cứ địa Việt Bắc. Quân Pháp đưa lượng lớn binh lực tới đây, lúc đông nhất lên đến 16.200 quân, được bố trí thành một hệ thống 49 cứ điểm phòng thủ chặt chẽ.

Mỹ và Pháp rất tự tin với pháo đài này. Như vậy, từ chỗ không có tên trong kế hoạch, Điện Biên Phủ trở thành trung tâm của kế hoạch Nava, trở thành nơi sẽ nổ ra trận chiến cuối cùng.

Trước tình thế đó, tháng 12/1953, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, giải phóng Tây Bắc tạo điều kiện giải phóng Bắc lào, tiêu diệt sinh lực địch, giành thế chủ động trên chiến trường và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc đàm phán, đấu tranh ngoại giao để sớm kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Chiến dịch chia là 3 đợt:

–       Đợt 1 (từ 13/3 – 17/3/1954): Tấn công tiêu diệt địch ở phân khu Bắc, tấn công cứ điểm Him Lam, Độc Lập, buộc địch ở Bản Kéo ra đầu hàng.

–       Đợt 2 (từ 30/3 – 26/4/1954): Mở các cuộc tấn công quy mô lớn đánh vào các vị trí phòng thủ chủ chốt ở phía đông phân khu Trung tâm gồm các hệ thống phòng thủ trên đồi A1, D1, C1, E1. Lúc này Mỹ đem quân chi viện khẩn cấp cho Pháp ở Đông dương, đặc biệt là đem quân vào miền Nam Việt Nam, đề phòng tình huống Pháp bị đánh bại thì nhanh chóng nhảy vào, thôn tính nước ta.

–       Đợt 3 (từ 1/5 – 7/5/1945): Quân ta đồng loạt tiến công trên mọi mặt trận, tiêu diệt địch ở các điểm kháng cự cố thủ. Chiều ngày 7/5, quân ta tiến đánh vào Sở chỉ huy. Đến 17h30, ngày 7/5, Tướng Đờ Cát xto ri cùng toàn bộ Ban Tham mưu của địch bị bắt. Lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên hầm chỉ huy báo hiệu Chiến dịch Điện Biên phủ thắng lợi, kế hoạch Nava sụp đổ.

Trong chiến dịch, quân ta loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 tên địch, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu giữ toàn bộ vũ khí và thiết bị quân sự. Tính chung từ 1953 – 1954, quân ta loại khỏi vòng chiến đấu 128.200 quân địch, thu 19.000 súng, bắn rơi và phá huỷ 162 máy bay, giải phóng nhiều vùng rộng lớn trong cả nước.

Thắng lợi của cuộc tiến công Đông Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã phá tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết hiệp định Giơ ne vơ, chấm dứt hoàn toàn chiến tranh tại Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt Nam

3.    Những thắng lợi trên mặt trận Chính trị, Kinh tế, Văn hoá – xã hội, Ngoại giao. 

a.    Thắng lợi trên mặt trận Chính trị bằng Đại hội lần thứ II, Đảng Cộng sản Đông Dương

Trước tình hình trong nước và thế giới có nhiều diễn biến có lợi cho cách mạng Việt Nam, tháng 2/1951, Đại hội Đại biểu lần thứ II, Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức ở Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đã có những chỉ thị và quyết định đúng đắn tại thời điểm này:

–       Tách Đảng Cộng sản Đông Dương để tiến hành thành lập tại mỗi nước một đảng phù hợp với tình hình chính trị của mỗi nước. Ở Việt Nam, Đảng được đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam và ra hoạt động công khai sau thời gian dài hoạt động ngầm để tránh sự truy quét của kẻ thù.

–       Thông qua Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của Đảng.

–       Đại hội đã thông qua Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Tổng Bí thư Trường Chinh nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập tự do dân tộc, xoá bỏ tàn tích chế độ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng” và phát triển chế độ dân chủ nhân dân để từng bước tiến lên CNXH.

–       Đại hội cũng tiến hành Thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam.

–       Đại hội tiến hành bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa mới, trong đó Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch, Trường Chinh được bầu làm tổng Bí thư.

Đại hội II của Đảng là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng về chính trị, đánh dấu bước phát triển mới và từng bước trưởng thành của Đảng ta. Bên cạnh đó, Đại hội cũng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Đây là Đại hội của chiến thắng, đại hội của ý chí và nguyện vọng của nhân dân trong cả nước trước những thành quả cách mạng đã đạt được.

b.   Thắng lợi trên mặt trận Kinh tế

–       Năm 1952, Chính phủ mở cuộc đại vận động nhân dân tăng gia, sản xuất và tiết kiệm

–       Năm 1953, vùng tự do và vùng căn cứ từ Liên khu IV trở ra sản xuất được 2.757.000 tấn thóc và 650.000 tấn hoa màu.

–       Chính phủ liên tiếp đề ra những chính sách thuế, xây dựng nền tài chính, ngân hàng, thương nghiệp phát triển độc lập.

–       Sản xuất thủ công nghiệp và công nghiệp cơ bản đáp ứng những nhu cầu về công cụ sản xuất và hàng tiêu dùng cần thiết như thuốc men, quân trang quân dụng…

–       Năm 1953, lần đầu tiên đạt cân bằng về thu chi.

–       Tháng 4/1953 – 7/1954, Chính phủ thực hiện 5 đợt giảm tô và 1 đợt cải cách ruộng đất ở 53 xã thuộc vùng tự do Thái Nguyên, Thanh Hoá…

–       Đến cuối năm 1953, từ Liên khu IV trở ra, chính quyền cách mạng đã tạm cấp 184.000 héc ta ruộng cho nông dân sản xuất.

Mặc dù đang trong giai đoạn cao trào của kháng chiến nhưng với những chính sách đúng đắn của Đảng và Chính phủ, nhân dân cả nước đã bắt đầu tăng gia sản xuất, vừa kháng chiến vừa sản xuất kinh tế nên đạt được nhiều bước tiến quan trọng góp phần hỗ trợ kháng chiến.

c.    Thắng lợi trên mặt trận văn hoá, xã hội

–       Tháng 7/1950, đề ra cải cách giáo dục lần thứ nhất, sau đó vì chiến sự nên tạm dừng lại và sau đó tiếp tục. Kết quả, năm 1952 có 1 triệu học sinh phổ thông và có khoảng 14 triệu người thoát nạn mù chữ.

–       Đảng và Chính phủ chú trọng xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng, hướng dẫn văn nghệ sĩ hoạt động theo hướng phục vụ kháng chiến và cách mạng…

–       Thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống mới, bài trừ mê tín dị đoan trở thành một phong trào rộng lớn trong tầng lớp nhân dân.

–       Những chính sách về văn hoá, xã hội đã củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển hậu phương vững mạnh, tạo cơ sở phát triển tinh thần cho nhân dân…

d.   Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao

–       Cuộc kháng chiến chống đế quốc của Việt Nam là cuộc chiến chính nghĩa, nhận được sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Tháng 1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với tất cả cả nước./

–       Từ tháng 1/1950, Trung Quốc, Liên Xô và các nước khối Xã hội chủ nghĩa đã lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Tuy Việt Nam bị bao vây, cô lập nhưng luôn nhận được sự ủng hộ của bạn bè và nhân dân trên thế giới trong đó có nhân dân yêu chuộng hoà bình tại Pháp và Mỹ. 

–       Ngày 11/3/1951, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Khơ-me Itxrắc và Mặt trận Lào Itxala họp hội nghị đại biểu thành lập :Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào”, góp phần củng cố và tăng cường  khối đoàn kết Đông Dương trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù chung. Nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia cùng chung một chiến tuyến, ra sức chống đế quốc xâm lược.

–       Ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ thành công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” khiến Pháp ký Hiệp định Giơ ne vơ, kết thúc chiến tranh Việt Nam vào ngày 21/7/1954. 

Nội dung Hiệp định Giơ ne vơ có những điểm chính sau:

–       Các quốc gia tham gia Hội nghị ký kết hiệp định cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Bên cạnh đó, phải thực hiện ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương. 

–       Thực hiện tập kết, chuyển quân theo khu vực và thời gian quy định. Ở Việt Nam: Quân đội Nhân dân Việt Nam và quân Pháp tập kết ở hai miền Bắc, Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời. Ở Lào, lực lượng kháng chiến tập kết ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxali. Ở Campuchia, lực lượng kháng chiến phục viên tại chỗ, không có vùng tập kết.

–       Cấm mọi hành động đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ khí nước ngoài vào các nước Đông Dương, trong đó các nước Đông Dương không được tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào và không được để nước ngoài đóng căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình.

–       Việt Nam tiến tới thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức vào tháng 7/1956

–       Thành lập Uỷ ban Quốc tế kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiệp định, gồm Ấn Độ, Ban Lan và Canada, trong đó Ấn Độ làm Chủ tịch.

–       Trách nhiệm thi hành hiệp định Giơ ne vơ thuộc về những người ký kết và những người kế nhiệm.

Ý nghĩa của Hiệp định Giơ ne vơ:

–       Hiệp định Giơ ne vơ là văn bản có giá trị pháp lý quốc tế đầu tiên ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Đông Dương và được các cường quốc tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng.

–       Hiệp định kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài và anh dũng của nhân dân Việt Nam, song chưa được trọn vẹn vì mới giải phóng được miền Bắc.

–       Thực dân Pháp buộc rút quân về nước, lập lại hoà bình cho ba nước Đông Dương, đáp ứng tình cảm yêu chuộng hoà bình của nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước Đông Dương và nhân dân trên toàn thế giới.

–       Làm thất bại âm mưu của đế quốc Mỹ muốn kéo dài, mở rộng và quốc tế hoá cuộc chiến tranh Đông Dương.

Hiệp định Giơ-Ne-Vơ tại Thụy sỹ diễn ra sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

4.    Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954

a.    Nguyên nhân thắng lợi

–       Có sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

–       Toàn quân, toàn dân đoàn kết một lòng, dũng cảm hy sinh chiến đấu, sẵn sàng bỏ mạng để bảo vệ nền độc lập dân tộc, cần cù, hăng hái trong lao động sản xuất.

–       Chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố và mở rộng, lực lượng vũ trang, quân đội ngày càng vững mạnh tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hậu phương rộng lớn, vững chắc về mọi mặt. 

–       Nhận được sự ủng hộ, đồng tình sát cánh của bạn bè yêu chuộng hoà bình trên thế giới, đặc biệt là sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa trong đó Liên Xô và Trung Quốc là những nước giúp sức rất lớn trong việc cung cấp các phương tiện chiến đấu, vũ khí, đạn dược, thuốc men….

b.   Ý nghĩa lịch sử

–       Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần 1 thế kỷ trên mảnh đất hình chữ S.

–       Miền Bắc Việt Nam được giải phóng, chuyển sang giai đoạn tiến lên chủ nghĩa xã hội, tạo cơ sở cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 

–       Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa, cổ vũ phong trào giải phóng của các dân tộc chịu áp bức, nô lệ trên toàn thế giới.

–       Là lời cảnh tỉnh, cảnh báo cho những thế lực, các nước đế quốc đặc biệt là Mỹ đang có ý định quay lại xâm chiếm Việt Nam.

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 chứng kiến nhiều khó khăn trên mọi lĩnh vực. Kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quan trọng, các kế hoạch tấn công của thực dân đều bị phá sản và đẩy đế quốc ngồi vào bàn đàm phán, ký kết hiệp định, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới: Miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam./.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây