Nam Phương hoàng hậu - hoàng hậu cuối cùng của phong kiến Việt Nam

Nam Phương Hoàng hậu là vợ của Vua Bảo Đại, quốc mẫu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. Bà lên ngôi Hoàng hậu dựa vào sự sắp đặt của thực dân Pháp, mối lương duyên này cũng chỉ như một ván cờ khi thực chất hai người hoàn toàn không có tình cảm với nhau. 

Kỳ I: Hoàng hậu người “ngoại đạo” đầu tiên trong lịch sử Việt Nam

Nam Phương Hoàng hậu tên tục là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1914 tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Bà xuất thân trong một gia đình đạo Công giáo giàu có, bố là ông Nguyễn Hữu Hào và mẹ bà Lê Thị Bình. Hai ông bà sinh được hai cô con gái, Nam Phương Hoàng hậu là cô con gái thứ hai. Bà có tên thánh là Maria Têrêsa, ngoan đạo và thường xuyên tham dự các thánh lễ tại nhà thờ thời niên thiếu. Cả hai cô sống cuộc sống như hai cô “công chúa” nhỏ, sung túc, đầy đủ và tuổi thơ trải qua êm đềm khác với những cô, cậu bé trong chế độ phong kiến xưa. 

Một điểm đáng lưu ý, cả cô và chị gái đều có quốc tịch Pháp và được bố mẹ cho thừa kế rất nhiều tài sản có giá trị ở Pháp quốc. Chính vì vậy, sau này khi chế độ Phong kiến Việt Nam sụp đổ, Nam Phương Hoàng hậu cùng con cái qua Pháp sinh sống rất dư giả, trái ngược với cảnh thiếu thốn của vua Bảo Đại. Sinh ra trong gia đình giàu có, thế nên hai chị em đã sớm lên Sài Gòn để sinh sống và học tập. Năm 1925, chị gái của Bà kết hôn với một Bá trước người Pháp khi mới 25 tuổi và chuyển qua Pháp sinh sống. 

Năm lên 12 tuổi, Nguyễn Hữu Thị Lan được bố mẹ gửi qua Pháp học tập. Ngôi trường mà cô học là một trong những trường nữ sinh danh tiếng nhất nước Pháp mang tên: Couvent des Oiseaux ở Pari. Tại đây, sau khi thi tốt nghiệp, vào tháng 9 năm 1932, Nguyễn Hữu Thị Lan trở về nước trên con tàu D’Artagnan của hãng tàu Messagerie Maritime. Nhiều dẫn chứng từ lịch sử cũng cho thấy, Nguyễn Phúc Bữu Bảo (tức vua Bảo Đại) cũng đi cùng chuyến tàu ấy về Việt Nam, nhưng hai người không gặp nhau. 

Nam Phương Hoàng hậu
Nam Phương Hoàng hậu năm 1939

Về Việt Nam được gần một năm, khi vua Bảo Đại lên nghỉ mát tại Đà Lạt, được sự dàn xếp của vị Toàn quyền Pháp Pasquier và viên Đốc lý Darles, trong một buổi dạ tiệc tại khách sạn La PalaceNguyễn Hữu Thị Lan và Bảo Đại đã gặp nhau. Mối lương duyên của Nguyễn Hữu Thị Lan và Bảo Đại thực chất là một sự sắp đặt.

Thời điểm Nguyễn Phúc Bữu Bảo lên ngôi hoàng đế, người Pháp đã tràn sang Việt Nam, xâm lấn nhiều nơi, thực hiện nhiều kế hoạch, chính sách bóc lột thuộc địa đặc biệt là khai thác tài nguyên chuyển về chính quốc và làm bất ổn tình hình Việt Nam. Bảo Đại lại là người có tư tưởng “Tây hóa” vì ông sống và học tập tại Pháp trước khi về Việt Nam để lên ngôi nên thực chất mà nói, thời điểm này chính quyền phong kiến Việt Nam chỉ là “bù nhìn” cho thực dân Pháp. 

Trớ trêu thay, hôn nhân của họ không những vấp phải 1, mà tới nhiều rào cản. Đầu tiên, triều đình Huế mà đứng đầu là Hoàng Thái hậu Đoan Huy không đồng ý. Bởi lẽ, Nguyễn Hữu Thị Lan là người “ngoại đạo” nên không thể nào trở thành quốc mẫu của thiên hạ được.

Tại thời điểm này, Phật giáo là tôn giáo chính và được thịnh hành trong triều đình nhà Nguyễn. Sau đó, do sức ép quá lớn từ Pháp, nên triều đình Huế và cả Hoàng Thái hậu đành “miễn cưỡng” đồng ý để bảo toàn địa vị của nhà Nguyễn. Phần nữa cũng là vì thái độ cương quyết của Bảo Đại. Khi các đại thần trong triều phản đối, Bảo Đại đã lớn tiếng nói: “Trẫm cưới vợ cho trẫm chứ đâu có cưới vợ cho các khanh?”

Thứ hai, Nguyễn Hữu Thị Lan là người Công giáo, Bảo Đại lại là người Phật giáo, nên theo Giáo luật của người Công giáo thì cần phải theo đạo mới được lấy nhau. Hai người đã rất khó khăn để xin phép giữ nguyên đạo của mỗi người khi thành hôn và được sự đồng ý từ Tòa thánh Vatican với điều kiện khi con cái sinh ra đều phải được rửa tội theo đạo Công giáo và không được ngăn cấm Nguyễn Hữu Thị Lan hay con cái tham dự các thánh lễ.

Nam phương hoàng hậu cùng với chính phủ nam triều

Nguyên nhân sâu xa nhất cho cuộc hôn nhân này chính là đến từ sự mưu tính của cả Nguyễn Hữu Thị Lan và Bảo Đại. Về phần mình, Bảo Đại muốn nhờ thế lực, tiềm lực của nhà gái để duy trì và củng cố quyền lực, cũng đồng thời là thuận theo người Pháp. Bởi theo nhận định của nhiều nhà sử học, Bảo Đại là người rất “Tây” nên tư tưởng của ông rất thoáng. Bảo Đại ăn chơi, nhu nhược, nông cạn… hơn là tập trung chuyên môn chuyện triều chính. Vì vậy, với một sự sắp đặt của người Pháp, Bảo Đại đồng ý.

Còn Nguyễn Hữu Thị Lan, bà là người rất có cá tính, kín đáo, có đầu óc, suy nghĩ và nhìn việc rất thấu đáo và quan trọng nhất, Bà có tham vọng quyền bính. Bà mong muốn sau khi có con trai, sẽ dùng thế lực của mình để đưa con trai lên làm Thái tử, có quyền nối ngôi và từ đó bà có thể “buông rèm nhiếp chính”. Tất cả chắc chắn đều vì lợi ích của nhau và các bên đều có được những món hời nhất định.

Về phần mình, Bảo Đại tiếp tục tại vị, ngôi báu được người Pháp ủng hộ và tha hồ ăn chơi, sống hưởng lạc, năm thê bảy thiếp… theo đúng những gì mà ông đã bị “Tây” hóa. Nguyễn Hữu Thị Lan thì có được quyền lực, trở thành đích mẫu của nhà Nguyễn, dưới một người trên vạn dân. Cả hai người họ đều vì lợi ích cá nhân của nhau và nói cách khác đây là một cuộc hôn nhân chính trị, không có tình cảm, chỉ có sự giả tạo bề ngoài khi Vua và Hoàng hậu tham gia các lễ nghi trước mặt dân chúng. 

Hoàng hậu Nam Phương thuở là nữ sinh.
Hoàng hậu Nam Phương thuở là nữ sinh. Ảnh tư liệu. 

Bên cạnh đó, một trong những bên thứ ba hưởng lợi từ cuộc hôn nhân này chính là người Pháp. Họ sẽ có nhiều quyền lợi hơn trước một Bảo Đại nhu nhược và ăn chơi, trong khi Nguyễn Hữu Thị Lan lại chính là con bài lớn mà người Pháp đã đánh cược. 

Hôn lễ của vua Bảo Đại và Nguyễn Hữu Thị Lan được tổ chức vào ngày 20 tháng 3 năm 1934 tại kinh thành Huế. Lúc đó, Bảo Đại tròn 21 tuổi và Nguyễn Hữu Thị Lan 20 tuổi. Ngay hôm sau, Bảo Đại ra chỉ sắc phong Nguyễn Hữu Thị Lan làm Hoàng hậu, lấy phong vị là Nam Phương, trở thành vị Hoàng hậu đầu tiên của phong kiến Việt Nam là người Công giáo và cũng là vị Hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam. 

Lễ sắc phong được tổ chức hết sức trang trọng, hoành tráng trong điện Thái Hòa. Đây là sự kiện được sử gia ghi chép lại là “chưa có tiền lệ”. Vì mười hai đời Tiên đế nhà Nguyễn, những người được chọn là Đích phúc tấn chỉ được nhận được phong vị cao nhất là Hoàng Quý phi, sau khi qua đời mới được truy phong làm Hoàng hậu. Thế nên, có thể nói đây là một cuộc hôn nhân có một không hai trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Hai từ “Nam Phương” được dùng để đặt cho phong hiệu của Nguyễn Hữu Thị Lan được Bảo Đại giải thích là bởi Bà xuất thân và mang hương thơm của miền Nam. Sau lễ cưới, Bảo Đại cùng Nam Phương Hoàng hậu dọn về ở tại điện Kiến Trung thuộc khu vực cấm thành. Điện này xây từ thời Khải Định, nhưng đã được sửa chữa và tân trang các tiện nghi Tây phương vào đầu triều Bảo Đại.

Tổng hợp Cao Quang

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây